“Từ đầu năm đến giờ, tôi vẫn luôn nói là, tại sao chúng ta cứ đặt ra con số kiềm soát lạm phát là 7% hay 8%, chúng ta cố gắng kiểm soát lạm phát dưới 1 con số. Cái này đúng, nhưng cần phải đưa ra những biện pháp, hành động kiểm soát đúng. Bất bình thường hay không bất bình thường không phụ thuộc vào thị trường, mà phụ thuộc vào các biện pháp điều hành”, chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh, Viện phó Viện nghiên cứu thị trường giá cả (Bộ Tài chính) đã mở đầu câu chuyện với phóng viên Đại Đoàn kết xung quanh giá cả thị trường, một vấn đề đang rất “nóng” hiện nay. 
Minh họa: Dũng Choai

PV: Trong thời gian vừa qua, hai thành phố lớn là Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng để bình ổn giá đối với các mặt hàng thiết yếu. Tuy nhiên, qua phản ánh của báo chí cho thấy giá của những loại hàng hoá này thậm chí còn cao hơn so với giá ngoài thị trường. Thưa ông chính sách bình ổn nhằm hạ giá bán trong thực tế hay chỉ để an dân là chính?
Ông Vũ Đình Ánh
- Tiến sĩ Vũ Đình Ánh: Xét về khía cạnh vận hành theo cơ chế thị trường và hiệu quả của nền kinh tế, thì rõ ràng các biện pháp bình ổn giá vừa qua có hiệu quả chưa cao, nhất là tác động tới thị trường. Trong một chừng mực nào đó chúng ta chưa tìm ra cách can thiệp vào thị trường để mà bình ổn giá và thông qua đó để kiểm soát lạm phát. Tuy nhiên, có thể nhìn nhận theo hướng tích cực đó là các chính sách bình ổn này như một cam kết của Chính phủ với người dân, chứ không có sự thả nổi cho giá có thể biến động.
Ngay trước thời điểm Tổng cục thống kê công bố CPI tháng 9 đã có một đợt tăng giá mới xảy ra trên diện rộng, theo đó hàng loạt hàng hoá tăng giá với mức tăng cao nhất lên tới hơn 20%. Đây có phải là dấu hiệu của việc hình thành một mặt bằng giá mới?
- Đợt tăng giá mới xảy ra trước thời điểm lấy chỉ số giá tháng 9. Diễn biến của giá có nhiều vấn đề để bàn.
Ví dụ như câu chuyện về xăng dầu là mặt hàng Nhà nước có thể can thiệp về giá nhưng chỉ có tăng thôi chứ khi giá dầu thế giới giảm cũng hiếm thấy giảm. Hay như việc ngành than “doạ” sẽ tăng giá với ngành điện và ngành điện cũng đang “doạ” sẽ tăng giá, chính điều này đang tạo nên một xu thế tăng giá. Đối với hàng hoá sản xuất trong nước và hàng hoá nhập khẩu xu thế chung vẫn tăng vì chi phí vốn hay mức lãi suất vẫn đứng ở mức mà các doanh nghiệp vẫn đánh giá là cao. Tỷ giá hối đoái từ đầu năm có điều chỉnh đã ở mức 5% nếu cộng với mức điều chỉnh trong năm 2009 lên tới 10% thì đã có điều chỉnh khá lớn và nghiễm nhiên là giá cả phải tăng.
Theo ông, việc tỷ giá biến động có phải là nguyên nhân chính trong việc giá cả đã bị kìm hãm trong suốt 3-4 tháng qua khiến giá không còn đúng với giá trị của hàng hoá và mức tăng chi phí sản xuất mới là nguyên nhân chính khiến giá tăng đồng loạt với mức độ lớn?
- Thực ra diễn biến giá của tháng 6,7,8 tăng thấp, dưới mức 0,3% không phải là bị kìm hãm. Khó để nói rằng việc tăng giá trong tháng 9 là do bị kìm hãm của những tháng trước đó. Bởi nếu tháng 9 mà chỉ số giá tăng cao nhưng sang tháng 10 muốn kiểm soát giá cả sẽ tiến hành điều chỉnh, chẳng hạn thông qua giá xăng dầu thì lập tức mặt bằng giá có thể hạ nhiệt.
Tuy nhiên, ở đây ta nhìn thấy một vấn đề, rõ ràng các cơ quan chức năng đã đánh giá sai. Tổ điều hành thị trường phán “xanh rờn” chỉ có 0,3%-0,4% rồi lại không có động thái gì để kiểm tra giá mà mình đang nắm tầm kiểm soát. Điều đó đã đẩy giá thị trường lên cao quá mức dự tính. Thông thường thì trong tháng 9 chỉ số giá bao giờ cũng phải cao hơn tháng 7, 8 nhưng cũng không thể cao quá 0,5%. Nếu nó vượt quá 0.5% thì rõ ràng đang có nhiều yếu tố tiềm ẩn.
Vậy theo ông, còn có nguyên nhân nào khác?
- Lạm phát của Việt Nam mang đầy đủ các yếu tố nhưng nặng về tâm lý. Yếu tố tâm lý thể hiện ở việc, lãi suất ngân hàng mãi không thể giảm được. Đơn giản vì họ nghĩ và họ tin rằng, lạm phát còn lên nữa do đó không thể giảm lãi suất ngân hàng. Thậm chí ngay cả các cơ quan quản lý cũng không đưa ra một thông điệp rõ ràng là tham gia bình ổn giá, trong khi đơn vị nào cũng nói là, “sắp tăng giá”. Vì thế những thông điệp này càng khiến tâm lý lo lắng sắp tới giá cả sẽ tăng.

Mặt hàng giáo dục tăng giá nhưng người tiêu dùng vẫn phải chấp nhận
Ảnh: HOÀNG LONG
Giá nhóm hàng hoá sách và thiết bị trường học trong tháng 9 đã tăng tới hơn 7% tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh và có thể coi đây là một trong những nguyên nhân đẩy CPI tăng cao. Thưa ông, việc nhóm hàng hoá này tăng giá vào tháng 9 hàng năm đều diễn ra chứ không phải là hiện tượng cá biệt nhưng vì sao năm nay mức tăng lại đến 7%? Năm 2009 mức tăng của nhóm này chỉ ở mức 4%.
- Một số phân tích chỉ ra rằng nhóm mặt hàng giáo dục là nhóm tăng cao đến 5,6% - 5,7%. Nhóm hàng giáo dục bao gồm học phí và các thiết bị giáo dục, dụng cụ học sinh. Tuy nhiên, với vấn đề học phí cũng cần nói thế này, học phí chỉ tăng tại thời điểm, tại tháng 8 và tháng 9, còn tháng 10 thì không thể tăng được nữa vì đã bước vào năm học. CPI là phản ánh biến động giá chứ không phản ánh “mức giá”. Do đó nhóm giáo dục chỉ mang tính thời điểm mà thôi.
Phải chăng sản xuất nói chung đang có vấn đề đối với các chi phí đầu vào chẳng hạn như sự ảnh hưởng bởi tỷ giá, giá nguyên liệu tăng cao… khiến giá thành sản xuất đang bị đẩy lên? Điều này có liên quan gì đến CPI và nguy cơ lạm phát?
- Cũng không hẳn như vậy. Tuy nhiên, rõ ràng việc điều chỉnh tỷ giá đang có tác động nhất định. Nhất là đối với Việt Nam, nước chuyên nhập khẩu nguyên vật liệu lớn. Nhưng câu chuyện điều chỉnh tỷ giá cần xem như thế này. Từ tháng 2 đến tháng 8 ta giữ nguyên tỷ giá. Nghĩa là trong 6 tháng không điều chỉnh gì. Trong khi đó từ tháng 2 đến tháng 8 chỉ số giá đã tăng khoảng 5,2% nên việc điều chỉnh đó liên quan đến “tiết chế” điều chỉnh. Tại sao không điều chỉnh “nhỏ giọt” mà lại chọn phương án giữ, đến khi không giữ được “thì để nó bùng”. Những lần như thế tạo ra những thay đổi.
Ông có thể đưa ra một vài nhận xét về xu hướng giá cả trong những tháng còn lại. Liệu có tiếp tục hình thành một mặt bằng giá mới trong những tháng cuối năm?
- Giá thế giới tăng cộng hưởng với câu chuyện tỷ giá hối đoái đẩy chi phí sản xuất tăng. Cái này thực sự sẽ tác động rất mạnh vào quý 4. Trong quý 4 là thời điểm sôi động nhất của thời kỳ kinh doanh của khối ngoài Nhà nước, tốc độ giải ngân của Nhà nước, tín dụng nhà nước. Thời điểm đó nếu không có những biện pháp điều tiết thì nó sẽ bùng rất nhanh. Mà không chỉ tác động quý 4 mà còn tác động vào quý 1 của 2011. Thực tế con số rất bất thường nhưng họ có thể điều chỉnh rất bình thường.
Xin chân thành cảm ơn ông!
Theo thuonghieugroup.com
Cập nhật 26/09/2010