PGS.TS.NGND.Huỳnh Văn Hoàng Sau gần một phần tư thế kỷ đổi mới, đất nước ta đã có bước tiến dài trên đường phát triển. Chúng ta đã xây dựng được tiềm lực cơ sở vật chất lớn mạnh hơn bất kỳ thời kỳ nào trước đây, đời sống tinh thần và vật chất của nhân dân ta được cải thiện đáng kể. Trong thành quả của đổi mới đó, khoa học- công nghệ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn.
Chúng ta đang phấn đấu để đến năm 2020 về cơ bản nước ta trở thành một nước công nghiệp. Đây là mục tiêu cao, vì chúng ta còn là một nước nông nghiệp sản xuất nhỏ, manh mún và còn lạc hậu. Hiện nay có hơn 70% nhân dân nước ta đang sống ở nông thôn và sản xuất nông nghiệp. Nhưng, với những thành quả của công cuộc đổi mới trong những năm vừa qua, cộng với quyết tâm rất cao của dân tộc đang vươn về phía trước, chúng ta tin rằng dân tộc ta sẽ đạt được mục tiêu đề ra.
Mọi nền kinh tế đều có các lĩnh vực sản xuất, lưu thông và tiêu dùng. Các lĩnh vực đó hợp thành một hệ thống thống nhất, có tác động qua lại, trong đó lĩnh vực sản xuất có vai trò quan trọng nhất.
Trước đây, trong thời bao cấp, hàng hóa sản xuất ra không đủ để cung cấp cho nhân dân, cung không đủ cầu nên nhu cầu của con người chỉ dừng lại ở mức “ăn no mặc ấm”, chất lượng chưa được quan tâm nhiều. Ngày nay, xã hội phát triển, chất lượng cuộc sống đã được nâng cao, nên nhu cầu của con người đã thay đổi, cần “ăn ngon mặc đẹp”.Vì vậy, chất lượng và giá thành hàng hóa là những chỉ tiêu quan trọng, đánh giá vị trí của thương hiệu và sức cạnh tranh của thương hiệu trên thương trường ..
Con thuyền kinh tế Việt Nam đã giương buồm vươn ra biển lớn. Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại thế giới WTO, hội nhập với nền kinh tế thế giới. Như vậy là chúng ta đã chấp nhận lao vào cuộc cạnh tranh khốc liệt giũa nền kinh tế còn non yếu của chúng ta với các nền kinh tế hùng mạnh của các nước phát triển trên thế giới. Cuộc cạnh tranh này được ví như có một ông quan tòa xử thắng cho người nào sản xuất hàng hóa có chất lượng cao, giá thành thấp . Trên mặt trận này, chúng ta cũng chỉ muốn thắng và phải thắng. Con đường để giành thắng lợi chỉ có một. Đó là doanh nghiệp quyết tâm đầu tư, áp dụng khoa học- công nghệ vào sản xuất, không ngừng tăng hàm lượng chất xám vào sản phẩm để tăng năng suất, nâng cao chất lượng và hạ giá thành hàng hóa.
Trong thời gian qua, khoa học- công nghệ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn cho nền kinh tế nước nhà. Trước đây, thời Pháp thuộc, người ta thường nói, công nghiệp Việt Nam không sản xuất nổi cây kim may áo. Ngày nay, công nghiệp Việt Nam đã lớn mạnh hơn rất nhiều. Hiện cả nước, tính đến hết năm 2009, có 249 khu công nghiệp, trong đó có 162 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động. Năm 2009, chỉ riêng các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đã tạo ra 12,2 tỷ USD và 2,6 ngàn tỷ đồng, nộp ngân sách 689 triệu USD và 4 ngàn tỷ đồng. Riêng Tập đoàn dầu khí quốc gia đã sản xuất chiếm trung bình 18 – 20% GDP cả nước, đóng góp đến 30% ngân sách nhà nước. Về nông nghiệp, thắng lợi rõ rệt nhất là chúng ta đã tạo ra và duy trì quá trình tăng trưởng sản xuất với tốc độ nhanh trong thời gian dài, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, xuất khẩu gạo, tiêu, điều thuộc hàng đầu thế giới, tạo được nhiều việc làm, góp phần nâng cao mức sống của nhân dân.
Sự đóng góp to lớn của khoa học- công nghệ đã tạo ra năng suất lao động cao hơn, chất lượng hàng hóa tốt hơn, giá thành hàng hóa rẻ hơn, góp phần cạnh tranh có hiệu quả trên thị trường thế giới. Điều này thể hiện trong thời gian qua, nhà nước đã có nhiều cố gắng đầu tư cho khoa học- công nghệ. Tuy nhiên, vốn đầu tư cho khoa học- công nghệ của chúng ta còn thấp, chưa tương xứng với nền kinh tế. Theo tính toán của các nhà khoa học, nếu nước nào chi cho khoa học- công nghệ khoảng 1 – 2% GDP thì khoa học- công nghệ của nước đó đóng góp cho nền kinh tế- xã hội khoảng 30 – 40% GDP. Nếu nước nào chi cho khoa học- công nghệ trên 3% GDP thì khoa học- công nghệ đóng góp cho nền kinh tế- xã hội trên 80% GDP, tức là hầu hết các sản phẩm của xã hội đều mang hàm lượng chất xám cao, đều do khoa học- công nghệ mang lại. Nước đạt đến trình độ như vậy là nước có nền kinh tế tri thức . Trên thế giới này, nước nào cũng phấn đấu và chúng ta cũng phấn đấu đạt đến nước có nền kinh tế tri thức !
Ở Việt Nam ta, nhà nước đầu tư cho khoa học- công nghệ còn thấp, khoảng 2% tổng chi ngân sách, nghiã là khoảng 0,5 – 0,6% GDP, chưa đạt đến 1% GDP !. Còn các doanh nghiệp Việt Nam, đa số đều là doanh nghiệp nhỏ và vừa, năng lực tài chính yếu, khả năng đầu tư đổi mới công nghệ còn hạn chế. Phần lớn các doanh nghiệp chỉ sản xuất kinh doanh một vài loại sản phẩm theo chu trình khép kín từ khâu đầu (thiết kế) đến sản phẩm cuối cùng, do đó hạn chế khả năng áp dụng các giải pháp khoa học- công nghệ để tạo ra hàng hóa có năng suất và chất lượng cao, giá thành thấp, tạo sức cạnh tranh cao Do đầu tư thấp nên trang thiết bị, trình độ công nghệ của các doanh nghiệp của chúng ta còn lạc hậu. Theo số liệu thống kê, trên 75% thiết bị, máy móc của các doanh nghiệp thuộc thế hệ những năm 60 của thế kỷ trước, trong đó 70% đã hết khấu hao và gần 50% máy cũ đã được tân trang lại; Trình độ công nghệ của ta còn lạc hậu so với các nước phát triển gần nửa thế kỷ … khiến các doanh nghiệp chưa đủ năng lực tạo ra những hàng hóa có chất lượng cao, giá thành thấp để có khả năng cạnh tranh thắng lợi trên thị trường thế giới. Điều này được minh chứng qua số liệu đầu tư cho khoa học- công nghệ. Ví dụ, năm 2007 Việt Nam đầu tư cho khoa học- công nghệ bình quân đầu người mới đạt 5USD, trong khi đó ở Hàn quốc đạt đến khoảng 1.000USD, còn ở Trung Quốc năm 2004 đã là 20USD. Ở Việt Nam, tỷ lệ đầu tư cho khoa học – công nghệ từ ngân sách nhà nước so với các doanh nghiệp ngoài nhà nước là 5:1, còn ở Trung quốc là 1:3. Do đầu tư cho khoa học- công nghệ thấp nên năng suất lao động của chúng ta còn thấp, thấp hơn từ 2 – 15 lần so với các nước Đông Nam Á, chất lượng hàng hóa kém tính cạnh tranh và giá thành hàng hóa còn cao.
Trước tình hình trên, các doanh nghiệp Việt Nam đang ngày càng coi trọng vấn đề đầu tư, ứng dụng khoa học- công nghệ vào sản xuất, kinh doanh; xem khoa học- công nghệ đóng vai trò then chốt trong quá trình tăng trưởng và phát triển. Các doanh nghiệp không những chỉ chú trọng đến số lượng, mà đặc biệt rất quan tâm đến chất lượng hàng hóa, luôn dựa và khoa học- công nghệ để cải tiến, nâng cao chất lượng và hạ giá thành hàng hóa nhằm đáp ứng yêu cầu của thị trường và khách hàng. Chỉ có như vậy các doanh nghiệp mới có thể tồn tại trong cuộc cạnh tranh khốc liệt không chỉ với hàng hóa trong nước, mà còn với hàng hóa của các nước khác. Và chỉ có như vậy, hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Nam mới có thể vươn xa ra thị trường thế giới, nâng cao uy tín của thương hiệu Việt Nam./.
------------{----------
PGS.TS.NGND.Huỳnh Văn Hoàng
Theo thuonghieugroup.com
Cập nhật: 13/09/2010