Báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam công bố mới đây tại Hà Nội cho thấy, sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã gặt hái nhiều thành công, duy trì được tốc độ tăng trưởng ấn tượng, tỷ lệ nghèo giảm đi trên diện rộng, nền kinh tế có sức bật tốt, phục hồi nhanh sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu… Tuy nhiên theo giáo sư Michael E. Porter - Đại học Kinh doanh Harvard, Việt Nam cần có những thay đổi để tạo ra “bước nhảy” phát triển.
Ghi nhận ở mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
Việt Nam là một trong những nền kinh tế tăng trưởng ấn tượng nhất trên thế giới trong hai thập kỷ qua. Sau khi thực hiện công cuộc đổi mới vào cuối thập kỷ 80, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đã tăng trung bình mỗi năm gần 6% và giúp hàng triệu người thoát nghèo.
Việt Nam đã gặt hái nhiều thành quả sau 20 năm đổi mới
Cuộc khủng hoảng tài chính châu Á và cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu gần đây không ảnh hưởng quá nhiều tới Việt Nam như nhiều quốc gia khác trên thế giới. Cộng đồng các nhà tài trợ coi Việt Nam như một trong những câu chuyện thành công về hiệu quả của những nỗ lực hỗ trợ phát triển quốc tế. Các nhà đầu tư cũng nhìn Việt Nam như một điểm đến đầy hấp dẫn.
Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, Việt Nam vẫn gặp không ít khó khăn như: mức thu nhập của người dân còn tương đối thấp; bất ổn định kinh tế vĩ mô là dấu hiệu nhắc nhở rằng thành quả tăng trưởng sẽ trở nên rất mong manh trước những "cú sốc".
Thêm vào đó, những năm qua các nhà đầu tư nước ngoài đã kết hợp vốn của mình với lao động Việt Nam và đầu vào nhập khẩu để sản xuất phục vụ thị trường toàn cầu. Hàng hóa xuất khẩu của khu vực chế tác có xu hướng tăng lên nhưng giá trị gia tăng và năng suất lao động trong khu vực xuất khẩu của Việt Nam vẫn còn thấp.
Thị phần xuất khẩu của Việt Nam những năm qua tập trung trong các ngành sử dụng nhiều lao động và tài nguyên thiên nhiên, liên kết trực tiếp giữa các ngành xuất khẩu hầu như không có. Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam những năm qua tập trung chủ yếu vào các nhóm hàng thô, chưa chế biến và nhóm hàng sơ chế, tỷ trọng nhóm hàng xuất khẩu đã qua sơ chế còn thấp.
Giá trị gia tăng thấp của khu vực xuất khẩu cùng với nhu cầu nội địa tăng những năm gần đây đang tạo ra áp lực về thâm hụt thương mại. Mô hình phát triển hiện nay của Việt Nam vẫn ở trình độ thấp, cơ cấu xuất khẩu phức tạp với tình trạng xuất khẩu nhiều… Trong bối cảnh môi trường toàn cầu đang thay đổi, việc chỉ dựa vào tài nguyên thiên nhiên, giá nhân công rẻ không đủ để duy trì sự tăng trưởng bền vững.
Đâu là thế mạnh của Việt Nam?
Nhận định của nhóm nghiên cứu "Báo cáo năng lực cạnh tranh Việt Nam 2010" cho rằng: Việt Nam có đủ lợi thế tự nhiên, nguồn lao động, hạ tầng xã hội và vị trí thuận lợi, nhưng chúng ta không chỉ dựa vào những lợi thế sẵn có mà phát triển được.
Báo cáo này cũng chỉ ra rằng: Năng lực cạnh tranh của Việt Nam hiện nay chủ yếu dựa vào các lợi thế sẵn có, đặc biệt từ vị trí địa lý và đặc điểm dân số. Việt Nam chưa tự mình tạo ra những thế mạnh và đã đến lúc phải có kế hoạch xây dựng năng lực cạnh tranh quốc gia.
Năng lực cạnh tranh vi mô của một quốc gia, theo phân tích của Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), sẽ được quyết định bới: chất lượng môi trường kinh doanh; trình độ phát triển của các cụm công nghiệp; độ tinh thông về hoạt động và chiến lược công ty.
Gs. Michael E. Porter
Để giải quyết vấn đề này, ông Michael E. Porter cho rằng: “Đã đến lúc Việt Nam cần thảo luận xem mình muốn đứng ở vị trí nào trong nền kinh tế toàn cầu. Đâu là những ngành và lĩnh vực thế mạnh về môi trường kinh doanh của Việt Nam mà thế giới sẽ biết tới? Và Việt Nam cũng cần đánh giá lại khung thể chế về hoạch định và thực thi chính sách kinh tế của mình. Ngoài ra, Việt Nam cần xây dựng các cụm ngành thí điểm dựa trên lợi thế sẵn có và các nhân tố manh nha".
Nhóm nghiên cứu của Viện CIEM đã đưa ra 5 sáng kiến để xây dựng các cụm ngành thí điểm của Việt Nam: Cụm ngành điện tử và cơ khí ở Hà Nội và các tỉnh lân cận để tận dụng năng lực các nhà cung cấp nội địa; Cụm ngành du lịch ở khu vực Miền Trung; Cụm ngành dệt may ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh và lân cận để tận dụng kỹ năng lao động; Cụm ngành logistics ở khu vực Thành phố Hồ Chí Minh để tận dụng mạng lưới cơ sở hạ tầng; và Cụm ngành chế biến nông sản ở Đồng bằng sông Cửu Long để nâng cao giá trị giá tăng của hàng nông sản xuất khẩu.
Bên cạnh đó, giáo sư Michael E. Porter cũng cho rằng, trong tương lai Việt Nam cần nâng cao vai trò của khu vực kinh tế tư nhân vì đây là động lực của sự phát triển. Khu vực kinh tế tư nhân cần tham gia sâu hơn, đóng vai trò quan trọng hơn đối với sự tăng trưởng của nền kinh tế. Sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân cần dựa trên các cụm công nghiệp, liên kết với nhau để nâng sức cạnh tranh cho các sản phẩm xuất khẩu và hạn chế việc nhập nguyên liệu đầu vào.
Do vậy, trước thực tế: một số hạn chế và những thành tựu đã đạt được cho tới nay càng làm tăng kỳ vọng và tham vọng, buộc Việt Nam phải duy trì đà tăng trưởng sau khi đã đạt tới trình độ phát triển như hiện nay. Trên nhiều khía cạnh, Việt Nam đang phải đối mặt với những lựa chọn chính sách phức tạp hơn nhiều so với thời kỳ quyết định mở cửa nền kinh tế hai thập kỷ trước.
Nguồn từ Tầm Nhìn
Theo thuonghieugroup.com
Cập nhật: 04/12/2010