Đất nước Việt Nam có nhiều thuận lợi cho việc phát triển nhiều loại cây ăn trái, như điều kiện đất đai, khí hậu phù hợp, nông dân có kinh nghiệm canh tác lâu năm và bắt đầu sản xuất an toàn. Nhà nước có chính sách phát triển, nhu cầu thị trường trong và ngoài nước về trái cây nhất là trái cây an toàn đang tăng. Được thuận lợi ấy còn thách thức lại rất lớn, như quy mô sản xuất thì rất nhỏ, phân tán. Ví dụ, ở Bến Tre, tổ chức một tổ hợp tác 60 người có 7 ha thì mỗi người chỉ được 100 mét vuông, có người 800 mét vuông, diện tích đất quá nhỏ. Đây là một thách thức rất lớn để ứng dụng khoa học- kỹ thuật (KH-KT) cũng như công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngành trái cây rất khó khăn.
Thứ hai, là hạn chế về vốn, thông tin thị trường và kiến thức kinh doanh hầu như không có. Cách thức buôn bán, sản xuất đứt đoạn, không phải là một chuỗi giá trị của một loại sản phẩm hay một loại cây trồng. Sản phẩm chế biến từ trái cây thiếu và ít đa dạng, thiếu sự liên kết giữa nhà sản xuất doanh nghiệp với đầu ra cho nên đầu ra còn hạn chế. Người sản xuất, người nông dân còn sản xuất theo chỉ đạo của Cơ quan Nhà nước, còn doanh nghiệp thì bán buôn theo kiểu của họ không có sự liên kết, mặc dù Nhà nước vẫn khuyến khích phải sản xuất theo yêu cầu thị trường, nhưng nông dân chưa tiếp xúc được với thị trường và nhu cầu của thị trường. Có lần ở Viện Quy hoạch của Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn tổ chức trình bày kế hoạch phát triển trái cây Việt Nam, có đưa ra con số quy hoạch một trăm ngàn ha nhãn, vài chục ngàn ha bưởi và còn nhiều nữa. Nhưng, lại không có cơ sở nào để vào đưa ra chỉ tiêu đó. Như vậy, chúng ta đang thiếu quan tâm điều tra thị trường, không theo yêu cầu thị trường mà kế hoạch đề ra không xuất phát từ thực tế, cho nên kế hoạch không thể thực hiện được.

TS. Võ Mai, Phó Chủ tịch Hội làm vườn Việt Nam phát biểu tại Hội thảo
Một thách thức nữa, là thị trường yêu cầu chất lượng ngày càng cao, kể cả thị trường trong nước, đời sống người dân càng ngày càng khá lên thì nhu cầu về trái cây càng cao, nhưng chỉ đạo sản xuất lại chưa kịp.
Vấn đề an toàn thực phẩm cũng rất quan trọng, đặc biệt trái cây là loại thực phẩm ăn tươi nên càng phải quan tâm đến vệ sinh an toàn thực phẩm. Có rất ít doanh nghiệp sản xuất trái cây xây dựng Thương hiệu và bây giờ chúng ta đã tham gia WTO vươn ra thế giới, vì vậy xây dựng và tạo chỗ đứng cho Thương hiệu trái cây của Việt Nam là rất quan trọng. Nếu không có tên tuổi, không có Thương hiệu thì việc xuất khẩu trái cây Việt Nam sẽ bị hạn chế rất nhiều.
Và một thách thức lớn nữa hiện nay, là sản phẩm trái cây của nước ngoài đang bán khắp thị trường Việt Nam đẹp, rẻ, hơn trái cây Việt Nam. Trái cây Việt Nam đã thua tại sân nhà.
Tôi xin nói về vấn đề tiêu thụ trái cây theo vùng, ngay tại Việt Nam nhưng đâu phải ai cũng được ăn trái cây, mặc dù mỗi năm chúng ta sản xuất 6-7 triệu tấn, trừ 30% thất thoát thì còn lại 4-5 triệu tấn, nhưng có rất nhiều người ở vùng sâu vùng xa tính ra mỗi người chỉ được 1 nải chuối/1 năm. Xảy ra như vậy vì chúng ta không vận chuyển được nơi vùng sâu vùng xa. Chúng ta là nước nhiệt đới, trái cây nhiều, nhưng chỉ tập trung vào các thành phố lớn như Hà Nội và TP.HCM, còn các tỉnh vùng sâu vùng xa thì không hề biết đến.
Về thị trường, dự báo mức tiêu thụ nội địa tăng 10%/năm. Theo số liệu của FAO, nếu mức thu nhập bình quân tăng 1% thì nhu cầu rau quả tăng 1,3%. Còn thị trường xuất khẩu tiêu thụ rau qủa của thế giới tăng bình quân 3,6%/năm, trong khi sản lượng rau quả chỉ tăng 2,8% cung vẫn chưa đáp cầu kể cả nước Việt Nam.
Thị trường xuất khẩu trái cây của Việt Nam
Thị trường Trung Quốc là thị trường xuất khẩu trái cây lớn nhất của Việt Nam. Chúng ta xuất khẩu sang Trung Quốc 70% sản lượng trái cây xuất khẩu mỗi năm. Nhưng chủ yếu buôn bán qua cửa khẩu, mang hàng đến biên giới bán, chứ không ký hợp đồng với các công ty của Trung Quốc. Vì vậy, chúng ta không nắm được chính xác con số bán ra hàng năm.
Trung Quốc là thị trường lớn nhất để chúng ta xuất khẩu. Nhu cầu trái cây của Trung Quốc là chuối 700.000 tấn, xoài 100.000 tấn/năm... Nhưng rất tiếc chúng ta lại không quan tâm đến những mặt hàng này, chưa có kế hoạch phát triển những mặt hàng mà thị trường đang cần như trái chuối…
Tồn tại chính của ngành trái cây Việt Nam
Thứ nhất, là chất lượng gồm những tiêu chuẩn : Đẹp, ngon, an toàn, lạ. Kết quả kiểm tra về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật hóa chất độc, năm 2007, kiểm tra 40 hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trong 77 mẫu rau quả các loại và trà khô ở 9 chợ đầu mối, 2 siêu thị tại Hà Nội và TP.HCM cho thấy, có 43/77 mẫu chiếm 55,84% có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật nhưng không vượt mức cho phép. Theo kết quả kiểm tra năm 2009 cho thấy, 25 mẫu rau và trái cây ở TP.HCM, kết quả phân tích có 5/5 mẫu trái cây không hoặc có dư luợng dưới mức cho phép. Đây là điều đáng mừng cho ngành trái cây Việt Nam
Thứ hai, là không có chiến lược xây dựng Thương hiệu, có 90% hàng nông sản Việt Nam trong đó có mặt hàng xuất khẩu không có Thương hiệu bán thô tại cửa khẩu. Thương hiệu trái cây nổi tiếng hiện nay rất ít. Vì chưa có kiến thức xây dựng thương hiệu nên việc xây dựng thương hiệu trái cây hiện rất hạn chế. Ngành trái cây Việt Nam chưa có Thương hiệu mạnh.
Thứ ba, là giá thành cao. Trong số nhiều trái cây Việt Nam chỉ có trái khóm so sánh với Thái Lan và các nước khác thì giá bán còn tương đối. Còn những loại trái cây khác hầu như là giá bán cao hơn thì làm sao có thể cạnh tranh được. Lý do, là chúng ta còn sản xuất nhỏ lẻ, không đầu tư lớn.
Thứ tư, là chuỗi cung ứng còn lạc hậu, rất nhiều nông dân không hiểu được chuỗi cung ứng là gì. Từ sản xuất đến tiêu thụ chúng ta bị gián đoạn cho nên rất khó cạnh tranh. Hiện tại, nếu như không liên kết thì không thể cạnh tranh được. Cách thu hoạch thủ công, nhất là sản phẩm sau thu hoạch để dưới đất không an toàn. Chúng ta cần chú ý hơn đến công nghệ trong quá trình thu hoạch, cách thu hoạch thủ công đã làm giảm chất lượng trái cây. Giá cả hiện nay do thương lái quyết định, người nông dân không có cơ hội tiếp xúc thị trường nên không có thông tin về giá cả thị trường, phải cố gắng bỏ khâu trung gian này. Chợ xuống cấp, chủ yếu là sạp, vựa, lại thiếu phương tiện. Một số chợ xây dựng không đúng chỗ như chợ đầu mối Cái Bè xây xong không dùng được. Người kinh doanh trong chợ thiếu thân thiện, văn minh, nói thách giá đôi khi còn chửi khách hàng. ĐBSCL có 1.756 chợ (chiếm 21%) so với cả nước, doanh thu dịch vụ hàng năm tăng bình quân 12.3% cao hơn cả nước 1,3%. Tuy nhiên, có 600 chợ tạm chiếm 20% và 42 chợ hoạt động không hiệu quả chiếm 11,3%.

Đại biểu tham dự nghe phát biểu của TS. Võ Mai tại Hội thảo
Tình hình xuất khẩu và năng lực cạnh tranh của trái cây Việt Nam
Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu trái cây đạt hơn 439 triệu USD. Theo đánh giá, sản lượng trái cây của Việt Nam đứng thứ 5 của châu Á, tiêu thụ nội địa 85%, xuất khẩu tươi 2,5%, giá cả thấp. Sản lượng trái cây chế biến không nhiều.
Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc đang giảm nhưng đang dần khá lên.
Về chất lượng, trái cây VN chưa đẹp, chưa ngon và chưa lạ. Về chuỗi cung ứng còn lạc hậu, bất cập. Xây dựng Thương hiệu thì quá ít, không truy nguyên được nguồn gốc. Giá thành còn cao, trong khi trái cây nước ngoài rẻ hơn và được nhập khẩu ngày càng nhiều.
Giải pháp khắc phục để tăng năng lực cạnh tranh cho trái cây Việt Nam
Trước tiên, nhà sản xuất phải thấy được thiếu xót của mình để khắc phục. Chúng ta phải xây dựng kinh tế tập thể mới có thể tập trung đầu tư vào một diện tích lớn, sản xuất ra các loại trái cây có lợi thế cạnh tranh.
Thực hiện quy trình canh tác tiến tiến đồng nhất, ứng dụng công nghệ thu hoạch và sau thu hoạch, sản xuất tập trung sản phẩm với năng suất và chất lượng cao (đẹp, ngon, an toàn), đáp ứng những mặt hàng thị trường cần, giảm chi phí sản xuất để có giá cạnh tranh.
Sản xuất an toàn theo quy trình GAP, đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng, an toàn cho môi trường, an toàn cho người sản xuất, truy nguyên được nguồn gốc.
Đối với nhà doanh nghiệp, phải liên kết để xây dựng chuỗi cung ứng tiên tiến, xây dựng Thương hiệu mạnh, giảm chi phí hậu cần, xúc tiến thương mại, nghiên cứu thị trường, thu thập thông tin, xây dựng quan hệ bền vững với khách hàng.
Đối với nhà khoa học, phải có nhiệm vụ nghiên cứu lai tạo và du nhập giống mới. Nghiên cứu cải tiến và ứng dung kỹ thuật tiên tiến về canh tác, công nghệ thu hoạch và sau thu hoạch. Huấn luyện, xây dựng mô hình chuyển giao công nghệ mới thích hợp cho các thành phần trong chuỗi giá trị trái cây Việt Nam.
Trách nhiệm của Nhà nước, là quy hoạch, tu sửa các chợ đầu mối truyền thống. Dựa trên trên kết quả điều tra nghiên cứu, xây dựng chợ mới ở nơi thích hợp với đầy đủ phương tiện phục vụ người kinh doanh và khách hàng. Có chính sách khuyến khích khối kinh tế nông nghiệp tập thể, trực tiếp giải quyết các đầu ra sản phẩm của mình để tiếp xúc thị trường. Chuyển tải thông tin thị trường và hỗ trợ xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm, nghiên cứu thị trường. Hỗ trợ, khuyến khích xây dựng Thương hiệu mạnh. Hỗ trợ tổ chức huấn luyện đào tạo về chuyên môn kinh tế cho mọi thành phần tham gia sản xuất./.
TS. Võ Mai, Phó Chủ tịch Hội làm vườn Việt Nam
(Bài phát biểu tại Hội thảo “Khoa học - Công nghệ & nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trong hội nhập WTO”)
Theo thuonghieugroup.com
Cập nhật: 14/09/2010