Khoa học và công nghệ thời gian qua đã có những đóng góp to lớn cho phát triển kinh tế, xã hội và quốc phòng an ninh của cả nước nói chung, thành phố Cần Thơ và vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nói riêng. Bằng việc ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, năng suất chất lượng và hiệu quả nhiều loại cây trồng, vật nuôi, sản phẩm hàng hóa đa dạng khác đã tăng cao, trong đó có nhiều mặt hàng chủ lực xuất khẩu như lúa gạo, thủy sản, đến các lĩnh vực công nghiệp hóa chất, y dược, sinh học và toàn bộ các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.
Đối với doanh nghiệp trong cạnh tranh và phát triển, để tồn tại và hội nhập kinh tế quốc tế, để sản phẩm có thể đáp ứng được nhu cầu của thị trường ngày càng cao thì việc ứng dụng khoa học công nghệ thật sự cần thiết và cấp bách.

Ô. Trần Ngọc Nguyên, Giám đốc Sở KH&CN TP. Cần Thơ
* Tình hình ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ phát triển của doanh nghiệp
Thời gian qua, thành phố Cần Thơ thực hiện các đề tài dự án mang tính ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ doanh nghiệp, dù chưa nhiều, nhưng một số kết quả nghiên cứu mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp và phục vụ các cấp tham khảo trong quá trình hoạch định chính sách kinh tế nhằm phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Từ những năm 2000, thành phố Cần Thơ đã đầu tư cho Công ty Cổ phần Thủy sản Mêkong thực hiện Dự án “Cải tiến thiết bị đông lạnh và hệ thống nước cấp nhằm nâng cao chất lượng thủy sản chế biến xuất khẩu”. Kết quả Dự án đã mang lại hàng năm tiết kiệm được 1 tỷ đồng, nâng 2% sản lượng hàng loại II lên loại I, không còn hàng kém chất lượng. Tiết kiệm 3,6 tỉ đồng trong thời gian thực hiện Dự án; Tăng được năng suất của nhà máy (9 tháng đầu năm 2006, sản lượng 5.400 tấn, doanh số 250 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 7,5 tỷ đồng); Giảm được một phần điện năng tiêu tốn (tiết kiệm điện năng hữu ích phục vụ cho sản xuất trong 9 tháng là 582.754.331 đồng, đã góp phần hạ giá thành sản phẩm); Giảm được lượng thành phẩm phụ trội và tăng chất lượng sản phẩm, sản xuất ra đạt 100% chỉ tiêu xuất khẩu, không còn hàng kém chất lượng và hàng không đạt chuẩn xuất khẩu.
Hiệu quả Dự án mang lại cao, từ đơn vị rất khó khăn về sản xuất kinh doanh đã vươn lên, lấy lại được niềm tin của khách hàng, tham gia thị phần xuất khẩu, nâng cao tay nghề cho công nhân và tăng thu nhập cho người lao động. Tạo công ăn việc làm ổn định cho người dân trên địa bàn và khu vực lân cận, và sản xuất kinh doanh ngày càng đạt hiệu quả vững chắc.
Đến 2007, thành phố Cần Thơ tiếp tục đầu tư cho Công ty Cổ phần Chế biến thực phẩm Cần Thơ thực hiện Dự án: “Đổi mới Thiết bị nâng cao chất lượng muối tại Công ty Cổ phần Chế biến thực phẩm Cần Thơ”. Kết quả Dự án tạo ra sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường. Việc đổi mới thiết bị nấu gián tiếp bằng lò hơi với nhiên liệu là than đá đã làm tăng năng suất 1,5 lần so với nấu muối gia nhiệt bằng đốt trấu, nâng cao chất lượng sản phẩm muối đạt tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 3973:1984; TCVN 3974:1984, là nguồn cung cấp muối sạch cho Thành phố. Ngoài ra, đổi mới thiết bị đã làm giảm được ô nhiễm môi trường xung quanh xí nghiệp và môi trường khu vực sản xuất.
Từ 2002, Sở KH&CN Cần Thơ đã hỗ trợ thực hiện Dự án “Nâng cao khả năng cạnh tranh trong phát triển xuất khẩu thủy sản tỉnh Cần Thơ bằng thực hiện hệ thống tiêu chuẩn quốc tế HACCP, SQF 1000-2000CM”. Kết quả Dự án góp phần nâng cao nhận thức về an toàn chất lượng của hộ nuôi thủy sản và góp phần cung cấp hàng xuất khẩu đạt chuẩn quốc tế, kiểm soát được chất lượng thủy sản xuất khẩu từ vùng nuôi đến bàn ăn của khách hàng, và có thể truy xuất nguồn gốc hàng hóa khi cần thiết. Thời điểm thực hiện Dự án đã có 4 nhà máy chế biến thủy sản và một số hộ nuôi (khoảng 70 ha) đã tự đầu tư kinh phí (không sử dụng đến kinh phí hỗ trợ của Dự án) để đăng ký được tổ chức chứng nhận SGS đánh giá và cấp chứng nhận đạt tiêu chuẩn SQF 1000-2000CM đạt chuẩn xuất khẩu vào các thị trường khó tính.

Ngoài ra, một số kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế - xã hội đã góp phần tác động gián tiếp đến doanh nghiệp, thông qua kênh tham mưu cho các cấp lãnh đạo thành phố Cần Thơ cũng như các cơ quan quản lý, tham khảo định hướng trong quá trình hoạch định chính sách phát triển kinh tế cho thành phố. Cụ thể:
- Từ 2006-2008, đề tài: “Lộ trình phát triển sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp TP.Cần Thơ khi Việt Nam gia nhập WTO và thực hiện AFTA”. Kết quả nghiên cứu đã hệ thống các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, định hướng phát triển các chính sách chủ yếu, cơ sở các định chế AFTA, WTO và lộ trình hội nhập toàn cầu đến năm 2020 của TP.Cần Thơ. Phân tích, đánh giá thực trạng, những tác động đến sản xuất kinh doanh tại các doanh nghiệp (môi trường, thị trường, năng lực cạnh tranh, chuyển đổi cơ cấu sản xuất kinh doanh, marketing và xây dựng thương hiệu…). Đánh giá những phù hợp và chưa phù hợp của các doanh nghiệp và một số ngành, các hạ tầng cứng và hạ tầng mềm trên địa bàn TP.Cần Thơ. Đưa ra những dự báo định lượng cụ thể về nhu cầu phát triển của từng lĩnh vực SXKD. Định hướng chuyển đổi cấu trúc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong từng lĩnh vực sang những ngành đem lại hiệu quả kinh tế ngày càng cao (công nghiệp vật liệu; vật liệu mới; linh kiện điện tử; các khu du lịch…).
- Năm 2010, Thành phố đã phê duyệt đưa vào kế hoạch triển khai thực hiện một số đề tài:
+ Đề tài: “Hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ nâng cao năng lực cạnh tranh giai đoạn 2010 – 2015”.
Kết quả nghiên cứu sẽ đánh giá hiện trạng công nghệ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc lĩnh vực tư nhân của TP.Cần Thơ (trình độ công nghệ, hiệu quả kinh tế, các ngành nghề cần tập trung ưu tiên cải tiến, đổi mới công nghệ). Khoảng 3 – 5 doanh nghiệp nhỏ và vừa thuộc lĩnh vực tư nhân sẽ tham gia cải tiến, đổi mới công nghệ, thực hiện chuyển giao công nghệ và có xem xét đến hiệu quả kinh tế mang lại (có thể kết hợp bài toán đổi mới công nghệ thông qua việc thực hiện các giải pháp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả). Thực hiện đề tài sẽ có ít nhất khoảng 20 doanh nghiệp thành lập và sử dụng quỹ phát triển KHCN trong doanh nghiệp tại TP.Cần Thơ, để đầu tư phát triển chất lượng sản phẩm hàng hóa qua ứng dụng thành tựu công nghệ mới.
+ Đề tài: “Nghiên cứu mức độ đáp ứng của các dịch vụ hỗ trợ phục vụ thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp ở TP.Cần Thơ”. Kết quả nghiên cứu sẽ xác định các yếu tố ảnh hưởng và dự báo nhu cầu hỗ trợ dịch vụ của các doanh nghiệp; đề xuất nhóm giải pháp phát triển hỗ trợ dịch vụ cho doanh nghiệp và nhà đầu tư.
+ Đề tài: “Nghiên cứu lộ trình và các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP.Cần Thơ sau khi Việt Nam gia nhập WTO và sau thời kỳ khủng khoảng kinh tế thế giới”. Kết quả nghiên cứu sẽ báo cáo về thực trạng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP.Cần Thơ trên các phương diện. Báo cáo lộ trình nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TP.Cần Thơ sau khi Việt Nam gia nhập WTO và sau thời kỳ khủng khoảng kinh tế thế giới. Kiến nghị với các cấp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ nâng cao năng lực cạnh tranh và đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp vừa và nhỏ TP.Cần Thơ.
Ngoài việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu, một số doanh nghiệp chủ động thực hiện nghiên cứu và ứng dụng Khoa học & Công nghệ trong cải tiến, đổi mới công nghệ, đổi mới sản phẩm mang lại hiệu quả sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Điển hình như Cty Cổ phần Dược Hậu Giang thành lập Trung tâm nghiên cứu KHCN phục vụ phát triển sản phẩn ngành Dược, hay Cty Cổ phần Thủy sản Bình An tự đầu tư xây dựng Viện Nghiên cứu Thủy sản để phục vụ kiểm định, nghiên cứu giống và cải tiến chất lượng, tăng tính cạnh tranh của sản phẩn hàng hóa vào thị trường Âu Mỹ. Tuy nhiên, số doanh nghiệp chủ động quan tâm, tự đổi mới công nghệ vẫn còn ít và chủ yếu là các doanh nghiệp hàng đầu của TP, các doanh nghiệp vừa và nhỏ hầu hết vẫn còn sử dụng những công nghệ lạc hậu.
Để có thể phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, một vấn đề mà các doanh nghiệp rất cần quan tâm đó là vấn đề về sở hữu trí tuệ. Hiện nay, các doanh nghiệp trong nước nói chung và các doanh nghiệp tại Cần Thơ nói riêng ngày càng nhận thức được vai trò quan trọng của sở hữu trí tuệ. Số lượng đơn đăng ký sở hữu công nghiệp của các doanh nghiệp đang tăng lên. Nhiều doanh nghiệp còn nộp đơn yêu cầu bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại nhiều nước trên thế giới.
Từ 2006-2010, Sở Khoa học và Công nghệ TP.Cần Thơ cũng đã hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện thủ tục xin cấp văn bằng bảo hộ cho 640 nhãn hiệu của 300 doanh nghiệp và 29 kiểu dáng công nghiệp của 5 cá nhân/ doanh nghiệp. Ngoài ra, Sở Khoa học và Công nghệ TP còn tham mưu trình UBND TP.Cần Thơ phê duyệt thực hiện Chương trình hỗ trợ phát triển và bảo vệ tài sản trí tuệ TP.Cần Thơ giai đoạn 2008-2010 và tầm nhìn đến năm 2020. Chương trình này đang triển khai thực hiện, ngày càng góp phần nâng cao nhận thức toàn xã hội và tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp bảo vệ mình trong cạnh tranh thị trường quốc tế, cũng như tự bảo vệ nhãn hiệu hàng hóa của mình trong cạnh tranh ngay trên sân nhà trong nước.
Bên cạnh những mặt đạt được dù khiêm tốn, vẫn còn tồn tại những yếu kém và bất cập trong việc ứng dụng KHCN trong các doanh nghiệp.
* Những yếu kém
Một cách tổng quan, nền KH&CN nước ta nói chung và TP.Cần Thơ nói riêng còn nhiều mặt yếu kém, có khoảng cách khá xa so với các nước mạnh về công nghệ trên thế giới. Chưa đáp ứng ngay và đầy đủ được yêu cầu làm nền tảng và động lực phát triển các mặt sản xuất và đời sống, cũng như hỗ trợ tích cực cho doanh nghiệp trong cạnh tranh và phát triển. Ngoài những lý do khách quan của một nước có thu nhập bình quân đầu người khoảng hơn 1000 USD, một số tồn tại khái quát như sau:
- Đội ngũ cán bộ KH&CN còn thiếu cán bộ đầu đàn giỏi, cơ cấu nhân lực KH&CN theo ngành nghề còn nhiều bất hợp lý.
- Đầu tư của Nhà nước và đầu tư của xã hội cho KH&CN, đặc biệt là tự đầu tư từ khu vực doanh nghiệp còn thấp. Trang thiết bị của các viện nghiên cứu, trường đại học nhìn chung còn rất thiếu, không đồng bộ, lạc hậu.
- Hệ thống dịch vụ KH&CN, bao gồm thông tin KH&CN, tư vấn chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng còn yếu kém cả về cơ sở vật chất và năng lực cung cấp dịch vụ đáp ứng các yêu cầu của hội nhập khu vực và quốc tế. Những yếu kém này ngày càng được khắc phục thông qua các dự án đầu tư từ các khu vực công, cũng như tư, và từ các chính sách của Nhà nước.
- Thị trường KH&CN chậm phát triển. Hoạt động mua, bán công nghệ và lưu thông kết quả nghiên cứu KH&CN còn bị hạn chế do thiếu các tổ chức trung gian, môi giới, các quy định pháp lý cần thiết, đặc biệt là hệ thống bảo hộ hữu hiệu quyền sở hữu trí tuệ.
- Ngoài ra, vấn đề cốt lõi nhất, theo chúng tôi, là thiếu sự liên kết hữu cơ mang tính sống còn giữa nghiên cứu KH&CN và sản xuất - kinh doanh; thiếu sự hợp tác chặt chẽ giữa các tổ chức nghiên cứu - phát triển, các trường đại học và doanh nghiệp. Cần thiết phải xây dựng cơ chế gắn kết thực sự giữa hoạt động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, với hoạt động nghiên cứu khoa học của các nhà khoa học thuộc Viện trường; và xem ứng dụng thành tựu công nghệ mới của nghiên cứu khoa học là biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh để phát triển của doanh nghiệp.
Chúng ta có thể tham khảo thực tế ở các nước phát triển như Nhật Bản, Singapoor, Thụy Sỹ, hay vùng lãnh thổ Đài Loan, phía sau các doanh nghiệp, các tập đoàn kinh tế lớn, là lực lượng hùng mạnh của các Viện trường, các nhà khoa học. Sự gắn kết hai bên thật sự là sống còn với nhau, để doanh nghiệp luôn luôn đổi mới công nghệ, tăng tính cạnh tranh, quyết định sự thắng thua trong cạnh tranh thương trường. Và về phía Viện trường, nhà khoa học thật sự có “đất dụng võ” cũng như có nguồn kinh phí tài trợ nghiên cứu rất kịp thời. Điều này ở Việt Nam cũng như ở ĐBSCL còn thiếu, yếu, hay chưa có cơ chế rõ ràng.
Tóm lại, hoạt động KH&CN cần được cải thiện và đổi mới nhiều mặt so với yêu cầu phục vụ doanh nghiệp trong cạnh tranh của nền kinh tế thị trường thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới./.
Ô. TRẦN NGỌC NGUYÊN - Giám đốc Sở KH&CN TP.Cần Thơ
Phát biểu tại Hội thảo "Liên kết phát triển KH&CN hỗ trợ doanh nghiệp đồng bằng sông Cửu Long”
Cập nhật: 17/08/2010
Theo thuonghieugroup.com