Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam cần xem xét lại khuynh hướng và thực chất đầu tư. Đây là vấn đề GS - TS.Nguyễn Mại muốn nhấn mạnh. * Nói về khuynh hướng đầu tư vào Việt Nam hiện nay, ông quan tâm đến hiện tượng nào?
- Đó là Trung Quốc. Họ đang có nhiều tác động lớn đến cả đầu tư lẫn xuất nhập khẩu của Việt Nam. Có thể nói, nhập siêu của Việt Nam hiện nay chủ yếu từ Trung Quốc. Chúng ta cũng nói nhiều đến kết quả xuất siêu của Việt Nam sang Mỹ, nhưng phần lợi này chỉ đủ bù đắp khoản nhập siêu từ Trung Quốc.
Gần như chưa có giải pháp tối ưu cho sự mất cân đối này, trong khi xuất khẩu tiểu ngạch sang Trung Quốc vẫn chiếm phần lớn, gây nhiều rủi ro. Với đầu tư của Trung Quốc sang Việt Nam, chúng ta không kỳ thị, nhưng vẫn phải đủ cảnh giác với các đầu tư này. Bởi vì, tình trạng công nghệ lạc hậu ồ ạt từ Trung Quốc sang Việt Nam mà không bị kiểm soát đang diễn ra.
Thậm chí, có công ty chuyên khai thác khoáng sản bị chính người dân ở Nam Ninh (Trung Quốc) phản đối vì công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm, vậy mà công ty này cũng đã có mặt tại Việt Nam. Có thể thấy, dường như đang có khuynh hướng dễ dãi trong đấu thầu vào Việt Nam.
Có thông tin cho biết, tại một số tỉnh Trung Quốc gần biên giới Việt Nam, chính quyền địa phương đang thành lập nhiều công ty chuyên sang Việt Nam đấu thầu tìm dự án. Đây là vấn đề cần quan tâm vì trong khi doanh nghiệp Việt Nam lại đang rất cần trúng thầu để giải quyết việc làm cho lượng lớn lao động.
* Vậy có sự đồng đều giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam chưa, thưa ông?
- Tính đến cuối năm 2009, có 89 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư gần 11.000 dự án tại Việt Nam. Những năm gần đây, thị trường đầu tư của nước ta đã thay đổi theo hướng tích cực, hiện nay nhiều nước công nghiệp phát triển đã có những dự án lớn ở Việt Nam. Tuy vậy, một số nước hàng đầu ở châu Âu như Đức, Pháp, Anh còn có ít dự án FDI, mặc dù quan hệ hợp tác giữa Việt Nam với EU đã được cải thiện rõ rệt.
Mỹ là nước đứng đầu thế giới về đầu tư ra nước ngoài, nhưng kể từ khi ký Hiệp định Thương mại song phương (BTA) với Việt Nam, trong khi kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào Mỹ năm 2009 so với năm 2001 tăng 13 lần, thì FDI của Mỹ tại Việt Nam không được như mong muốn.
Trước khi có BTA, thời kỳ 1996- 2001, vốn thực hiện bình quân đạt 248 triệu USD/năm; 2002 - 2009, con số này là 479 triệu USD/ năm, tăng chưa đến hai lần. Sự hiện diện của các tên tuổi như: IBM, Canon, LG, Toyota... tại thị trường Việt Nam đã cho thấy ít nhiều thành công về thu hút đầu tư nước ngoài của Việt Nam. Tuy vậy, số lượng các doanh nghiệp trong danh mục 500 tập đoàn, công ty lớn nhất thế giới đầu tư vào Việt Nam còn quá ít nếu so với Thái Lan, Indonesia và Malaysia.
* Ông nhận xét thế nào về việc chậm giải ngân của một số tên tuổi lớn, cũng như con số thực về giải ngân?
- Ngay như dự án của Intel vào Việt Nam, tính đến tháng 6/2010, Intel cũng mới chỉ đầu tư khoảng 230 triệu USD, tức là chưa bằng 1/4 vốn đăng ký. Chúng ta phải xem xét kỹ vấn đề này, bởi nó sẽ ảnh hưởng nhiều đến uy tín của Việt Nam trong thu hút đầu tư. Thống kê cho thấy, bình thường cứ khoảng 18 tháng, Intel lại xây dựng một nhà máy tương tự như ở Việt Nam trên thế giới.
Về thống kê con số giải ngân, giữa Việt Nam với quốc tế cũng đang có sự không trùng khớp. Báo cáo mới nhất của Cục Đầu tư nước ngoài cho biết, tính đến tháng 6/2010, tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam là 187 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện là 72 tỷ USD, trừ 20% vốn trong nước thì vốn nước ngoài là 58 tỷ USD.
Nhưng thống kê từ Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNCTAD), tính đến cuối năm 2009, con số giải ngân là 44 tỷ USD. Bởi vì, UNCTAD đưa ra số liệu dựa trên báo cáo thanh khoản của ngân hàng quốc tế, còn chúng ta dựa vào báo cáo từ các địa phương.
* Xin cảm ơn ông!
Nguồn từ Doanh Nhân Sài Gòn
Theo thuonghieugroup.com
Cập nhật: 16/09/2010