Chuyên mục bình luận trên báo Hồng Kông “Bưu điện Hoa Nam buổi sáng” cuối tuần qua đăng bài viết của Jean- Pierre Lehmann, giáo sư kinh tế chính trị quốc tế tại truờng kinh doanh IMD ở Lausanne (Thụy sỹ), với nhận định sự nổi lên gây ngạc nhiên của Việt Nam từ quá khứ chiến tranh là một luận cứ thuyết phục cho chủ nghĩa toàn cầu hóa.Trong bất kỳ cuộc so sánh nào về mô hình tiêu biểu cho toàn cầu hóa, Trung Quốc và Ấn Độ thường được quảng cáo rầm rộ. Nhưng Việt Nam, nước mà một số nước gọi là “rồng nhỏ”, cũng đang nhanh chóng nổi lên như là một người chiến thắng của toàn cầu hóa (thành công được ghi nhận khi đất nước này được chọn làm chủ nhà năm nay của Hội nghị Diễn đàn Kinh tế thế giới của Đông Á).
Về khía cạnh kinh tế, Việt Nam là một sức mạnh đang nổi lên nhanh chóng. Kể từ khi bắt đầu thế kỷ này, Việt Nam giữ vị trí thứ ba về tốc độ tăng trưởng bình quân GDP hàng năm (chỉ sau Trung Quốc và Ấn Độ) và là nước thành công nhất trong xóa đói giảm nghèo. Việt Nam đã trở thành một nhà xuất khẩu lớn, xếp hạng thứ 40. Điều đáng nói là thị trường mà Việt Nam xuất khẩu sang nhiều nhất (gần 20%) lại chính là Mỹ, nước từng gây ra chiến tranh Việt Nam trong gần hai thập kỷ.
Mỹ cũng đang hiện diện mạnh mẽ trong đầu tư vào Việt Nam, bên cạnh những đối tác khác, trong đó có Hàn Quốc và Liên minh châu Âu. Năm 2007, Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đánh dấu buớc phát triển mới cho sự hội nhập sâu rộng hơn trong cộng đồng thế giới.
Một dấu hiệu lớn cho thành công của Việt Nam là sự tham gia của cộng đồng người Việt ở nước ngoài vào sự phát triển đất nước. Nhiều thuyền nhân trước đây hay con cháu của họ quay trở về, đem theo nguồn vốn, tri thức. Việt Nam cũng có kết cấu nhân khẩu năng động: dân số nước này sẽ vượt 100 triệu người vào năm tới, vì vậy họ được lợi từ một tỷ lệ dân số trẻ đáng kể.
Tốc độ thay đổi thật kinh ngạc. Trong thập kỷ qua, Việt Nam đã trở thành một xã hội năng động, cởi mở và mang tính kinh doanh. Để theo đuổi chính sách cải cách, tự do hóa và hội nhập hơn nữa vào kinh tế thế giới, Chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu đạt được tiêu chuẩn quốc gia công nghiệp hóa vào năm 2020.
Nhưng không phải lúc nào cũng vậy. Nhìn lại lịch sử hàng nghìn năm của đất nuớc này, luôn bận tâm chính của Việt Nam là giữ gìn toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chủ quyền giữ yên bờ cõi. Thập kỷ đầu tiên kể từ sau khi đất nước thống nhất tình trang trì trệ kinh tế dẫn đến suy sụp và những làn sóng tị nạn. Tới năm 1986, được khuyến khích của tấm gương mở cửa của Trung Quốc, Hà Nội bắt tay vào một chương trình cải cách gọi là “đổi mới”. Điều đó làm tăng hy vọng và các nhà đầu tư nước ngoài lần lượt kéo đến. Nhưng những kết quả ban đầu gây thất vọng khi việc thực thi các cải cách diễn ra chậm chạp. Trong thập niên 1990 các nhà đầu tư nước ngoài bỏ đi, khi nói rằng, cách duy nhất để trở thành triệu phú tại Việt Nam là khởi đầu bằng vị thế tỷ phú.
Song, một làn sóng thứ hai đã đến ở giai đoạn đầu thế kỷ này, mở rộng cánh cửa. Đầu tư nước ngoài trở lại, nhiều thuyền nhân trở về và kinh tế bùng nổ khi Việt Nam vượt bão suy thoái 2008- 2009.
Trong một bài báo trên Tạp chí Foreign Affairs (các vấn đề quốc tế) năm 2005, học giả cải cách hàng đầu của Trung Quốc là Zheng Bijian viết rằng, sự lựa chọn mang tính chiến lược quan trọng nhất của các lãnh đạo Trung Quốc ở cuối thập niên 1970 là theo chủ nghĩa toàn cầu hóa. Điều tương tự cũng có thể nói về Việt Nam ở cuối những năm 1990.
Bất chấp cuộc khủng hoảng 1997-1998, việc nhiều nước Đông Á hăng hái theo chủ nghĩa này đang ngày càng đặt dấu ấn châu Á lên toàn cầu hóa thế kỷ 21. Dường như có thể quả quyết khá chắc chắn rằng, kinh tế thế giới sẽ được thống trị bởi châu Á trong những thập kỷ tới. Chiến công toàn cầu hóa của Việt Nam là một kế hoạch quốc gia nằm trong bức tranh toàn cảnh châu lục này.
Vẫn còn những vấn đề về cơ sở hạ tầng, quản lý, tham nhũng, các thể chế yếu, bất bình đẳng gia tăng, dù ở Việt Nam không tệ như một số nước Đông Á khác, có thể hủy hoại các viễn cảnh tương lai. Nhưng nguy cơ lớn nhất cho Việt Nam, khu vực và thế giới là chủ nghĩa phi toàn cầu hóa cùng sự bùng nổ của chủ nghĩa bảo hộ và bài ngoại như trong thập niên 1930. Đó sẽ là một bi kịch.
Một ưu tiên chủ chốt, mang tính chính sách toàn cầu là phải củng cố WTO và kết thúc vòng đàm phán Đôha. Đó là những cách tốt nhất để ngăn chặn chủ nghĩa phi toàn cầu hóa và nhờ đó Việt Nam, cùng các nước khác, tiếp tục được con đường hướng đến thịnh vượng.
Tướng Robert McNamara, kiến trúc sư chính của chiến tranh Việt Nam, đã chứng kiến sự lột xác của quốc gia Đông Nam Á này. Trong cuốn sách phát hành năm 1995 của ông với tựa đề: “Hồi tuởng: Những thảm kịch va bài học từ Việt Nam”, McNamara thừa nhận Mỹ mắc sai lầm lớn. Để Việt Nam trở thành một xã hội năng động, cởi mở và phồn vinh, liệu có thực sự cần phải đổ nhiều máu như vậy?
Nguồn từ Công Thương
Theo thuonghieugroup.com
Cập nhật: 10/08/2010