Quá trình gia nhập WTO của Việt Nam đã bắt đầu từ năm 1995 khi Việt Nam gửi đơn gia nhập. Trong quá trình 11 năm, Việt Nam đã vượt qua các đàm phán với WTO cũng như đàm phán song phương với tất cả các thành viên của tổ chức này. Ngày 7/11/2006, tại Geneva (Thụy Sĩ) đã diễn ra trọng thể lễ ký Nghị định thư về việc Việt Nam được chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 vào ngày 11/1/2007. Vào WTO chúng ta có nhiều cơ hội và cũng lắm thách thức cho nền kinh tế. I. RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI
Gia nhập WTO, Việt Nam phải rà soát các hệ thống tiêu chuẩn để phù hợp hơn nữa với các quy định của WTO liên quan đến TBT. Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật đã hỗ trợ đảm bảo tính tương thích của hệ thống pháp luật liên quan đến TBT & Hiệp định về áp dụng các biện pháp vệ sinh động, thực vật (Hiệp định SPS). Với Hiệp định TBT và Hiệp định SPS, WTO điều chỉnh vấn đề liên quan đến kỹ thuật đối với gần như tất cả các loại hàng hoá. Xin giới thiệu một số điểm khái quát của hai Hiệp định.

Ô. Phạm Hữu Cát - Chi cục QLCL Miền Nam
1.HIỆP ĐỊNH CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO*) VỀ RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI (TBT**)
(**) TBT : Technical Barriers to Trade - Có thể coi đây là phần chủ yếu của hàng rào phi thuế quan áp dụng cho các doanh nghiệp ở các nước đang phát triển muốn nhập hàng vào các nước phát triển
2. HIỆP ĐỊNH VỀ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP VỆ SINH VÀ KIỂM DỊCH ĐỘNG THỰC VẬT (SPS)
Hiệp định SPS đưa ra các quy tắc cơ bản về tiêu chuẩn an toàn thực phẩm và sức
khỏe động, thực vật. Hiệp định cho phép các quốc gia tự thiết lập tiêu chuẩn riêng của
mình. Nhưng Hiệp định cũng yêu cầu rằng các quy định phải có căn cứ khoa học.
Các quy định này nên chỉ được áp dụng ở mức độ cần thiết để bảo vệ sức khỏe hoặc
tính mạng của con người, động vật hoặc thực vật. Các quy định này cũng không được
phân biệt đối xử một cách tùy tiện hoặc vô lý giữa các quốc gia có điều kiện giống
nhau hoặc tương tự nhau.
+ Hai Hiệp định khác nhau như thế nào?
Hiệp định SPS: Chỉ áp dụng cho các biện pháp ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của
con người, động vật và thực vật;
Hiệp định TBT: áp dụng cho tất cả các loại biện pháp với bất kỳ mục đích gì, bao
gồm cả mục đích bảo vệ sức khỏe.
II. LUẬT TIÊU CHUẨN VÀ QUY CHUẨN KỸ THUẬT, LUẬT CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA
Theo các cam kết gia nhập WTO thì Việt Nam cần tiếp tục điều chỉnh pháp luật kể cả những văn bản luật ở tầm Quốc hội. Quốc hội khóa X đã thông qua hai luật quan trọng liên quan đến tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm hàng hóa.
1. LUẬT TIÊU CHUẨN VÀ QUY CHUẨN KỸ THUẬT
( Luật số 68/2006/QH11, ngày 29/6/2006)
Luật này có bảy chương và 71 điều, có hiệu lực thi hành từ 01/01/2007. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 01/8/2007 – Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật.
Trong luật này có giải thích:
- Tiêu chuẩn là quy định về đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý dùng làm chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các đối tượng này.
Tiêu chuẩn do một tổ chức công bố dưới dạng văn bản để tự nguyện áp dụng.
- Quy chuẩn kỹ thuật là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý mà sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội phải tuân thủ để bảo đảm an toàn, vệ sinh, sức khoẻ con người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia, quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác.
Quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản để bắt buộc áp dụng.
Trong luật này có quy định:
- Đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật bao gồm:
a) Sản phẩm, hàng hoá;
b) Dịch vụ;
c) Quá trình;
d) Môi trường;
đ) Các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội
- Hệ thống tiêu chuẩn và ký hiệu tiêu chuẩn của Việt Nam bao gồm:
1. Tiêu chuẩn quốc gia, ký hiệu là TCVN;
2. Tiêu chuẩn cơ sở, ký hiệu là TCCS.
- Tiêu chuẩn cơ sở do người đứng đầu tổ chức, tổ chức xây dựng và công bố để áp dụng trong các hoạt động của cơ sở.
- Hệ thống quy chuẩn kỹ thuật và ký hiệu quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam bao gồm:
1. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, ký hiệu là QCVN;
2. Quy chuẩn kỹ thuật địa phương, ký hiệu là QCĐP.
- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ tổ chức xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia trong phạm vi ngành, lĩnh vực được phân công quản lý;
- Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức thẩm định dự thảo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia;
- Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xây dựng và ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương để áp dụng trong phạm vi quản lý của địa phương đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình đặc thù của địa phương và yêu cầu cụ thể về môi trường cho phù hợp với đặc điểm về địa lý, khí hậu, thủy văn, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương;
- Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm áp dụng quy chuẩn kỹ thuật có liên quan.
- Quy chuẩn kỹ thuật được áp dụng bắt buộc trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và các hoạt động kinh tế - xã hội khác.
2. LUẬT CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HOÁ
( Luật số: 05 /2007/QH12 , đã được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21/11/2007. Luật này gồm có 7 chương, 72 điều.
Có hiệu lực thi hành từ 01/7/2008. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 132/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 –Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm hàng hóa. Trong luật này có quy định:
- Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hoá và tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hoá; quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
- Áp dụng đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hoá và tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hoá tại Việt Nam.
- Chất lượng sản phẩm, hàng hoá được quản lý trên cơ sở tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng. Căn cứ vào khả năng gây mất an toàn, sản phẩm, hàng hoá được quản lý như sau:
a) Sản phẩm, hàng hoá nhóm 1 được quản lý chất lượng trên cơ sở tiêu chuẩn do người sản xuất công bố áp dụng;
b) Sản phẩm, hàng hóa nhóm 2 được quản lý chất lượng trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật tương ứng do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành và tiêu chuẩn do người sản xuất công bố áp dụng.
Chính phủ quy định cụ thể việc ban hành Danh mục sản phẩm, hàng hóa nhóm 2.
- Quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa là trách nhiệm của người sản xuất, kinh doanh nhằm bảo đảm an toàn cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường; nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa Việt Nam.
- Quản lý nhà nước về chất l¬ượng sản phẩm, hàng hóa là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nhằm thực thi các quy định của pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
- Người sản xuất, người nhập khẩu tự công bố các đặc tính cơ bản, thông tin cảnh báo, số hiệu tiêu chuẩn trên hàng hóa hoặc một trong các phương tiện sau đây:
a) Bao bì hàng hóa;
b) Nhãn hàng hóa;
c) Tài liệu kèm theo sản phẩm, hàng hóa.
- Nội dung của tiêu chuẩn công bố áp dụng không được trái với yêu cầu của quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành.
- Người sản xuất thông báo sản phẩm của mình phù hợp với tiêu chuẩn (sau đây gọi là công bố hợp chuẩn) hoặc với quy chuẩn kỹ thuật (sau đây gọi là công bố hợp quy).
III. CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM, HÀNG HÓA LÀ SỰ SỐNG CÒN CỦA DOANH NGHIỆP
Trong bối cảnh hội nhập WTO, cạnh tranh trên thương trường rất khốc liệt, các đối thủ cạnh tranh với nhau trên nhiều phương diện, trong đó tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm hàng hóa có ý nghĩa sống còn đối với doanh nghiêp.
Do trình độ quản lý còn non kém, vốn ít, công nghệ chưa cao, mọi người lo ngại nếu Việt Nam cứ áp dụng mức bảo vệ thấp thì các sản phẩm hàng hóa nước ngoài sẽ tràn vào làm ảnh hưởng thị phần của các doanh nghiệp trong nước. Đúng là chuyện đó có thể xảy ra nhưng về phía Nhà nước đã áp dụng rất nhiều biện pháp thuế và phi thuế quan khác, các công cụ quản lý Nhà nước về chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật.
Muốn có chất lượng doanh nghiệp phải tổ chức xây dựng tiêu chuẩn cơ sở, tổ chức áp dụng TCVN, QCVN, Tiêu chuẩn quốc tế, áp dụng các hệ thống quản chất lượng tiên tiến, sử dụng các công cụ năng suất chất lượng, đổi mới công nghệ, xây dựng và quảng bá thương hiệu,...
Nhà nước đã có nhiều chương trình hỗ trợ doanh nghiệp về vốn, về công nghệ, nhãn hiệu, năng suất chất lượng, áp dụng tiêu chuẩn tiên tiến, hệ thống quản lý chất lượng,... Nhiều doanh nghiệp rất nỗ lực, năng động, sáng tạo, chứng tỏ khả năng cạnh tranh cao trên thương trường và có doanh thu, lợi nhuận cao. Đây là những doanh nghiệp luôn chăm lo xây dựng và bảo vệ thương hiệu từ nền tảng chất lượng sản phẩm hàng hóa – dịch vụ./.
Ghi chú: Bài viết có sử dụng một số nội dung trong Sổ tay TBT, thông tin trên mạng và cuốn sách ISO 9000 – Hệ thống quản lý hướng vào chất lượng ( GS Nguyễn QuangToản).
Phạm Hữu Cát
Bài phát biểu tại Hội thảo “Liên kết phát triển KH&CN hỗ trợ các doanh nghiệp ĐBSCL”
Cập nhật: 17/08/2010
Theo thuonghieugroup.com